Thu mật là phần thưởng của cả năm, và cũng là chỗ dễ làm hỏng đàn nhất nếu làm sai.
Điều nguy hiểm là hậu quả lộ ra rất muộn, thường vài tháng sau.
Cuối tháng 5 đến tháng 11, khi đàn đã tích trữ qua mấy tháng nguồn hoa dồi dào.
Mở ra thấy nhiều bọng mật đã bịt kín, phần dự trữ dày rõ.
Đàn đông quân và ổn định qua nhiều tuần.
Đàn đã ở chỗ đó ít nhất một năm.
Đủ bốn điều này mới nên thu. Thiếu một thì để lại mùa sau.
| Tình huống | Có thu được không | Vì sao |
|---|---|---|
| Cuối mùa mưa, dự trữ dày | Có | Đàn đã tích đủ |
| Đàn mới về chưa một năm | Không | Đàn đang gây dựng |
| Tổ mới tách trong năm | Không | Cả hai bên đều cần dự trữ |
| Giữa mùa khô | Không | Đàn đang sống bằng dự trữ |
| Đàn quân thưa | Không | Không đủ sức bù lại |
| Vừa thu cách đây không lâu | Không | Chưa kịp tích lại |
Đây là câu hỏi quan trọng nhất và cũng khó nhất.
Nguyên tắc chung: chừa lại đủ để đàn qua được quãng cuối mùa khô mà không cần cho ăn.
Thu phần dư ra, không thu phần đàn đang cần.
Người mới hay thu quá tay vì thấy nhiều bọng mật và nghĩ đàn còn nhiều.
Nhưng lượng đó là dự trữ cho cả mùa khó phía trước, chứ không phải phần thừa.
Nếu phân vân thì thu ít hơn. Năm sau đàn khoẻ thì thu được nhiều hơn.
Thu mật vào cuối tháng 5 đến tháng 11, lúc đó đàn vẫn đông và trông vẫn khoẻ.
Vài tháng sau, vào quãng cuối mùa khô, đàn cần dùng tới dự trữ thì mới phát hiện thiếu.
Lúc đó đàn suy, quân hao, và người nuôi thường đổ cho thời tiết hoặc cho mùa khó.
Không có sổ ghi lượng thu thì không ai nối được hai chuyện đó với nhau.
Đây là lý do nên ghi lại thu bao nhiêu từ tổ nào, để đối chiếu vào cuối mùa khó.
Chọn ngày nắng, làm vào buổi sáng hoặc chiều mát.
Dụng cụ rửa và phơi khô từ hôm trước, phải khô hoàn toàn. Vài giọt nước là đủ làm mẻ mật lên men sớm.
Chỉ lấy bọng đã bịt kín ở vùng chứa mật, tránh vùng ấu trùng.
Tách nhẹ tay bằng dao mỏng, đừng cạy giật.
Làm nhanh gọn, đóng thùng lại sớm.
Và lau sạch phần mật vương ra ngoài, cả trong lẫn quanh chân thùng, vì mùi mật hút kiến rất nhanh.
Kiểm chống kiến hằng ngày trong tuần đó, vì đàn vừa bị mở thùng và có mùi mật vương ra.
Không mở lại kiểm tra trong vài tuần sau.
Ghi vào sổ: thu ngày nào, từ tổ nào, được bao nhiêu.
Và theo dõi tổ đó qua mùa khó để biết mình đã thu vừa hay quá tay.
Sau vài mùa thì tự biết mức thu hợp lý cho từng tổ trong vườn nhà.
Con số đó khác nhau giữa các tổ và giữa các năm, nên không có mức chung nào áp được. Chỉ có cuốn sổ của chính mình mới cho biết.
Cuối mùa mưa, khi dự trữ dày và đàn đã ở chỗ đó ít nhất một năm.
Đủ để đàn qua mùa khó mà không cần cho ăn. Phân vân thì thu ít hơn.
Vì đàn chỉ cần tới dự trữ vào mùa khô, vài tháng sau khi thu.
Khô hoàn toàn. Rửa và phơi từ hôm trước.
Lau sạch mật vương ra và kiểm chống kiến hằng ngày trong tuần đó.
Đây là cách cải thiện bền vững nhất mà lại rẻ nhất. Nên trồng cây gì, trồng vào khi nào và nên ưu tiên cho những tháng nào.
Đây là quãng quyết định đàn nào còn và đàn nào mất. Chuẩn bị từ trước đó ra sao và nên làm những việc gì trong chính mùa đó.
Tổng hợp từ những gì người nuôi lâu năm kể lại. Phần lớn đều lặp lại giống hệt nhau và đều tránh được nếu biết trước từ đầu.
Kinh nghiệm địa phương thì không có trong sách vở nào. Cách tìm người để học hỏi và cách đặt câu hỏi sao cho thật hiệu quả.
Kỹ năng đáng học nhất mà lại không tốn đồng nào. Những gì nhìn được từ bên ngoài và cách tập nhìn sao cho dần quen mắt hơn.
Việc mất một phút mỗi tháng mà sau vài năm thành thứ quý nhất. Cách ghi thật đơn giản và những thứ nhất định nên có trong sổ.
Nơi hỏi đáp của cộng đồng nuôi ong dú, chủ yếu người mới. Nội dung viết theo dạng giải đáp thắc mắc thực tế người nuôi gặp hằng ngày, ngôn ngữ dễ hiểu, tránh thuật ngữ.